Cho vay nặng lãi có phải lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản không ?

Cập nhật: 30/05/2019 10:34 Lượt xem: 36

Thưa Luật sư: Tháng 5/2014 em mở shop thời trang công sở cho một hãng có tên tuổi ở Hà Nội, do vốn ban đầu ít không đủ xoay vòng tiền hàng nên ngày 7/8 em có vay của một chị 5 triệu với lãi suất 5.000/1.000.000/1 ngày để lấy hàng nhưng do ế ẩm và không đủ doanh thu nên đến ngày 14/8/2014 em lại vay thêm 10 triệu đồng để trang trải tiền thuê cửa hàng và tu sửa lại cửa hàng cũng với lãi suất như trên.

 Hợp đồng chỉ có một bản chị ta giữ không cho tôi bản nào và nói rằng khi nào tôi trả hết gốc lãi thì sẽ trả giấy vay nợ gốc cho tôi, lãi suất thoả thuận bằng miệng chứ không ghi trong hợp đồng. Hai tháng đầu chị ta lấy tôi 3 triệu tiền lãi và có một quyển sổ chị ta ghi vào không cho tôi ký cũng không ghi biên nhận cho tôi, những tháng sau chị ta lấy đều mỗi tháng 2.250.000đ (15%/1 tháng) có lần tôi bị tai nạn nên nhờ mẹ tôi ra trả hộ chị ta cầm tiền nhưng không ghi biên lai, mẹ tôi có hỏi thì chị ta nói chỗ chị em quen biết gđ với nhau không cần. Và cứ thế tôi trả đều đặn cho đến hết tháng 6/2015 số tiền lãi tôi đã trả là 21 triệu, đến nay tôi không còn khả năng chi trả (vì từ lâu shop thời trang không bán được phải thanh lý và trả công ty) tôi đi làm thêm cũng chỉ đủ trả lãi cuộc sống khó khăn, ly hôn nuôi con một mình may nhờ ông bà ngoại chăm nom con cái, chị ta biết thế nhưng không giảm tiền lãi cho tôi mà vẫn nhận nhưng không ghi biên nhận cho tôi.

Khi bố mẹ tôi biết chuyện đã suy nghĩ cho tôi tiền trả nhưng phải lấy giấy tờ gốc về và ghi rõ từng ngày trả lãi, tôi ra đặt vấn đề thì chị ta không đồng ý cho tôi hai bản gốc và giấy ra hạn mà viết cho tôi một tờ hợp đồng mới gộp hai khoản trên vào là 15 triệu vào ngày 14/8/2015 rồi không ghi cho tôi chữ sao lại từ hai hợp đồng ngày 7/8 và 14/8. Khi tôi yêu cầu xác nhận cho tôi số tiền lãi đã nhận của tôi mà chính chị ta cũng thừa nhận 21 triệu nhưng chị ta không ký và nói rằng đây là cho vay ngoài không phải ngân hàng nên không ký mà chị ta chỉ đánh dấu vào sổ của chị ta. Bố mẹ tôi mời chị ta đến nhà chơi và nói chuyện tình cảm và yêu cầu chị ta tính lại lãi kể cả gấp đôi lãi suất Ngân hàng cho phép không vượt quá 150% nhưng chị ta không nghe mà còn dở mặt nói rằng nếu tôi không trả đủ 15tr gốc thì sẽ tố cáo tôi ta toà và không thừa nhận số tiền lãi 21tr mà tôi đã trả cho chị ta, chị ta còn chụp ảnh tờ hợp đồng gộp của hai ngày kia và bảo là đã thế tính 30tr tiền gốc.

Thật tình tôi cũng không biết làm thế nào nữa? Bố tôi nói sẽ tố chị ta tội cho vay nặng lãi vì thế chị ta không đòi 15tr gốc nữa mà bảo tôi trả 12tr còn số lãi 21tr kia không có căn cứ chị ta không ký xác nhận. Trừ khi tôi trả đủ 15tr gốc và tiền lãi hai tháng 7 và 8 là 4,5tr thì chị ta mới xác nhận số tiền lãi tôi đã trả 21tr trong thời gian qua mà không hề có biên lai xác nhận. Như vậy có phải chị ta lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tiền của tôi không?

Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Tại thời diểm vay tiền của bạn, chúng tôi xin áp dụng điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009)- Bộ luật Hình sự có hiệu lực lúc bấy giờ về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Theo như quy định trên, thì người cho bạn vay không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì người cho vay không có hành vi vay hay mượn hoặc thuê tài sản mà có thể người đó đã phạm tối cho vay lãi nặng, do hành vi đó kéo dài đến hiện tại nên chúng tôi xin tư vấn theo quy định của bộ luật hình sự 2015, cụ thể:

Theo quy định Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định như sau:

''1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.''

Về mức lãi suất cho vay, căn cứ điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về lãi suất như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo quy định của pháp luật về hợp đồng vay thì không quy định bắt buộc phải thành lập văn bản, do đó hợp đồng vay giữa hai bạn không vi phạm về hình thức. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, thì lãi suất hai bên thỏa thuận đã vi phạm quy định của bắt buộc. Đồng thời, hai bên đang có sự tranh chấp. Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hoặc cơ quan công an giải quyết để đảm bảo quyền và lợi ích của pháp luật. Bạn cũng lưu ý thu thập đủ bằng chứng để có căn cứ tố cáo, khởi kiện.

Bình luận

Tìm kiếm về pháp luật để thắc mắc của bạn được giải đáp

VD: đơn ly hôn ly hôn đơn phương tư vấn luật tư vấn pháp luật đơn khởi kiện công ty luật luật sư tư vấn

Tin xem nhiều nhất

Ngày đăng: 26/01/2018
Chào Luật Tia Sáng! Tôi muốn hỏi rằng tôi muốn kinh doanh dịch vụ cho thuê, mượn xe ô tô để khách hàng trực tiếp lái xe và sử dụng trong thời gian ngắn hạn (1-2 ngày) như thế tôi hoặc khách hàng có bị xử phạt không? Xin cảm ơn

HÃY GỬI CÂU HỎI CỦA BẠN
ĐẾN VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN TỐT NHẤT

Về đầu trang