Nơi cư trú của bị đơn có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn đơn phương không ?

Cập nhật: 05/06/2019 15:40 Lượt xem: 41

Thư luật sư , tôi nộp đơn ly hôn đơn phương tại toà án huyện, tôi kết hôn nhưng không tách khẩu về quê chồng, do chồng tôi đi làm tại hà nội nhưng không đăng ký tạm trú tạm vắng. Hộ khẩu thường trú vẫn ở quê , nhưng qua trao đổi với toà , toà yêu cầu tôi lên công an xã nơi chồng tôi đăng ký hộ khẩu xin xác nhận chồng tôi có mặt tại địa phương vì tôi không có hộ khẩu phía chồng tôi.

 Sau khi xin xác nhận của công an xã. Tôi bổ sung hồ sơ còn thiếu và được phía thụ lý đơn cho biết , nếu ngày toà triệu tập mà chồng tôi vắng mặt , hồ sơ của tôi sẽ bị huỷ do chồng tôi không có mặt tại địa phương và không xác đinh được nơi cư trú. Xin hỏi , trường hợp của tôi toà trả lời như vậy có đúng hay không ?

Cảm ơn luật sư!

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Tia Sáng của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình:

Bạn nêu rằng bạn không đăng ký thường trú phía bên nhà chồng bạn mà vẫn ở nhà ngoại, chồng bạn có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng hiện chồng bạn không ở nơi thường trú mà đã xuống Hà Nội để làm việc, sau khi bạn lấy giấy xác nhận của bên cơ quan công an về việc chồng bạn có đang ở nơi thường trú. Vì bạn đang yêu cầu tòa án nhân dân giải quyết việc ly hôn đơn phương của bạn, tòa án đang cần các căn cứ xem vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình không để thụ lý vụ việc của bạn. Sau khi có xác nhận của cơ quan công an, tòa án đã đưa ra thông tin về việc chồng bạn không về giải quyết theo giấy triệu tập đầu tiên thì tòa án sẽ không giải quyết việc của bạn vì không xác định được nơi cư trú của chồng bạn. Và bạn đang không rõ tòa án làm vậy có đúng hay không?

Nếu xác định theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền của tòa án được xác định trong vụ việc của bạn như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

  • 1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
  • a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

Như vậy nếu xét theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì tòa án nhân dân có thẩm quyền là tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn đang đăng ký thường trú hoặc tạm trú hoặc làm việc hoặc theo thỏa thuận của vợ chồng bạn là tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn đang thường trú, tạm trú hoặc làm việc. Tuy nhiên còn phải đối chiếu sang quy định của pháp luật cư trú để xác định cụ thể về nơi thường trú của công dân.

Việc quy định một trong các tòa án trên có thẩm quyền giải quyết để nhằm đảm bảo quyền được biết về vụ việc khởi kiện liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình, việc không xác định được vấn đề họ đang ở nơi thường trú sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, nên tòa án sẽ trả lại đơn cho bạn vì mặc dù họ đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng không đảm bảo đúng bản chất của nơi đăng ký hộ khẩu thường trú "Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú". ( khoản 1 Điều 12 Luật cư trú năm 2006).

Nếu xác nhận họ không ở đó một thời gian dài theo Điều 12 Luật cư trú sửa đổi bổ dung năm 2013 thì:

"1. Người đã đăng ký thường trú mà thay đổi chỗ ở hợp pháp, khi chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới nếu có đủ điều kiện đăng ký thường trú thì trong thời hạn mười hai tháng có trách nhiệm làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú.”

Nếu bản chất họ không thuộc diện đăng ký thường trú ở đó nữa, thì theo luật cư trú thì tòa án có cơ sở để trả lại đơn cho nguyên đơn.

Điều 5. Nơi cư trú của công dân ( Nghị định 31/2014/NĐ-CP)

  • 1. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống.
  • Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật. Đối với chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân, tổ chức tại thành phố trực thuộc trung ương phải bảo đảm điều kiện về diện tích bình quân theo quy định của Hội đồng nhân dân thành phố.
  • 2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại Khoản 1 Điều này, thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn.

Như vậy cá nhân không xác định được nơi cư trú của công dân thì cư trú được xác định là nơi cuối cùng mà công dân sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường.

Có nhiều quan điểm khác nhau với một vấn đề và cả trong vấn đề của bạn cũng vậy, nếu theo quan điểm thứ nhất tòa án nơi chông bạn đang đăng ký thường trú tức là nơi chồng bạn có tên trong sổ hộ khẩu thì tòa án nơi đó vẫn có thẩm quyền giải quyết theo BLTTDS, thứ hai, tòa án nơi chồng bạn đang đăng ký hộ khẩu thường trú mà có căn cứ xác minh rằng chồng bạn không còn ở đó nưa thì được xác định thuộc trường hợp phải thay đổi hộ khẩu thường trú, hoặc không xac định được nơi cư trú để tòa án trả lại đơn cho bạn. Nếu giải thích theo hướng này và dẫn chiếu sang quy định của pháp luật cư trú thì cũng không trái luật, nhưng cũng không có một quy định trực tiếp trường hợp này tòa án sẽ không có thẩm quyền giải quyết vấn đề của bạn, nếu tòa án tạo điều kiện để bạn giải quyết việc ly hôn thì cũng không trái pháp luật, mà tòa án có thể gửi giấy triệu tập đến gia đình nhà chồng bạn và có thể đồng thời thông báo qua các phương tiện thông tin đai chung như việc phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của Trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp, như vậy tòa án vẫn có thể giải quyết vấn đề của bạn, còn bạn có thể viện dẫn vào quy định của Bộ luật tố tụng nêu trên trực tiếp quy định về vấn đề của bạn, và bạn cần yêu cầu tòa án đưa ra căn cứ cụ thể về việc trả lại đơn của bạn.

Bình luận

Tìm kiếm về pháp luật để thắc mắc của bạn được giải đáp

VD: đơn ly hôn ly hôn đơn phương tư vấn luật tư vấn pháp luật đơn khởi kiện công ty luật luật sư tư vấn

Tin xem nhiều nhất

Ngày đăng: 26/01/2018
Chào Luật Tia Sáng! Tôi muốn hỏi rằng tôi muốn kinh doanh dịch vụ cho thuê, mượn xe ô tô để khách hàng trực tiếp lái xe và sử dụng trong thời gian ngắn hạn (1-2 ngày) như thế tôi hoặc khách hàng có bị xử phạt không? Xin cảm ơn

HÃY GỬI CÂU HỎI CỦA BẠN
ĐẾN VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN TỐT NHẤT

Về đầu trang